Bộ Xử Lý Tĩnh Điện cao áp 1000mm

Bộ Xử Lý Tĩnh Điện

12 Tháng

Công Ty TNHH Kỹ Thuật Điện Hiệp Lực Mr Bình:TEL:0905 496 424- 0903 743 151 Email: dhl.sale04@gmail.com Skype: dhl.sale04 YaHoo: thanhbinh850036

khả năng thấm ướt và kết dính

Xử lý corona là một công cụ bổ sung các đặc tính bề mặt cho các vật liệu không thấm hút rất hiệu quả. Sự bổ sung này tạo ra đặc tính thấm ướt và kết dính mực in mà khả năng thấm ướt làm cơ sở cho sự kết dính của mực in, sơn và chất tráng phủ trên nhựa, giấy và kim loại mỏng. Khả năng thấm ướt là khả năng loang ra của một chất lỏng trên bề mặt rắn, chẳng hạn như bề mặt nhựa dùng để in. Nước được đổ lên bề mặt vật liệu thấm ướt sẽ trãi ra thành một lớp mỏng trong khi trên bề mặt không thấm ướt thì  nước tụ lại thành giọt. Góc tạo ra giữa bề mặt giọt chất lỏng và bề mặt vật liệu (góc tiếp xúc) cho biết khả năng thấm ướt. Khả năng thấm ướt phụ thuộc vào thành phần hóa học và cấu trúc bề mặt, bởi vì góc tiếp xúc giữa chất rắn và chất lỏng được xác định bởi phương trình YOUNG. Các giá trị điển hình về năng lượng bề mặt của polymer được tóm tắt như sau:

PE  : 31 – 33 mN/m.

PP  : 29 – 30 mN/m.

PET: 41 – 42 mN/m.

Khả năng thấm ướt của bề mặt phải cao hơn chất lỏng thấm ướt. Thông thường thì sử dụng mực dung môi như Ethanol (22mN/m) hay Ethyl acetate (24mN/m) để thấm ướt bề mặt nhựa, còn nước (72mN/m) thì không. Khả năng thấm ướt bề mặt của mực in đủ lớn là điều thiết yếu để thẩm thấu, truyền mực và kết dính tốt. Đặc biệt khi sử dụng mực gốc nước, nó ngày càng đáp ứng các điều luật của chính phủ.

Nhựa là một vật liệu phức hợp, trong thành phần của nó chứa một hay nhiều polymer và các chất phụ gia như chất độn, chống Oxy hóa, chất làm trơn, chống tĩnh điện, các pigment và một số chất khác. Do tính chất di cư, các chất phụ gia di chuyển từ bên trong ra bề mặt nhựa. Thành phần xác định khả năng thấm ướt của mực in và sơn được liên kết với ma trận polymer bằng nhiều liên kết khác nhau.

Khi bề mặt được xử lý thích hợp thì các đặc tính thấm ướt và kết dính của nhựa có thể điều chỉnh được mà không cần thay đổi đặc tính về số lượng của ma trận polymer. Bề mặt được xử lý corona với tần số trung bình trong khoảng 20 – 40 kHz là cách tốt nhất để bổ sung đặc tính bề mặt cho nhựa, kim loại mỏng và giấy. Các dạng vật liệu đối xứng như cốc (trà) cũng có thể xử lý bằng phương pháp này rất tốt. Đối với các loại vật liệu phức tạp hơn thì xử lý bằng phương phương pháp điện cực đặc biệt.

Trong công nghệ in, màng nhựa sử dụng phải được xử lý corona. Do điều kiện lưu trữ màng trước khi in mà năng lượng bề mặt có thể không đủ tốt để bám dính mực in.

Số lượng các phân tử làm trơn nhiều hoặc  thêm các phụ gia khác để lưu trữ được lâu có thể làm giảm khả năng in. Do đó xử lý corona chỉ được thực hiện trước khi in để “làm tươi” bề mặt in và cho khả năng bám dính tốt giữa mực và màng.

Các hệ thống mực UV yêu cầu năng lượng bề mặt màng cao hơn so với mực dung môi. Mực gốc nước chứa nhiều cồn cũng đòi hỏi năng lượng bề mặt cao hơn để bám dính tốt.

Trong trường hợp sử dụng mực gốc nước thì năng lượng bề mặt phải nằm trong một phạm vi hẹp. Nguyên nhân là do nước sẽ gây ra vấn đề trong quá trình sấy.

Khi in hay tráng phủ trên màng polymer với nhiều hệ thống mực hay tráng phủ khác nhau thì năng lượng bề mặt cần thiết cho trong bảng 2.

 

 

Điều chỉnh tốt năng lượng bề mặt của vật liệu là cơ sở cho việc bám dính tốt. Độ dai cơ học của mặt tiếp xúc giữa màng và mực là một tính năng chứa các thông số sau đây:

 

-  Độ nén cơ học phụ thuộc vào đặc tính cơ học của chất tráng phủ và vật liệu.

-  Độ thô của vật liệu.

-  Năng lượng bề mặt, phân cực, và phản ứng mạnh.

 

Việc xử lý corona làm tăng đặc tính bám dính của vật liệu bởi các yêu cầu sau:

-  Làm sạch bề mặt bằng cách thay thế các nguyên tử và phân tử bám hút.

-  Cải thiện khả năng tiếp xúc phân tử bởi việc tăng thấm ướt.

-  Tăng năng lượng bề mặt và điều chỉnh sự phân cực.

-  Tạo phản ứng giữa các gốc và nhóm chức.

 

Đo khả năng thấm ướt và bám dính

Trong thực tế thì năng lượng bề mặt của polymer được đo với các loại mực in theo tiêu chuẩn DIN ISO 8296 và ASTM D 2578-99a.

Khi đo theo DIN ISO 8296 thì mực in được quét lên vật liệu bằng chổi. Mép vệt mực được quan sát hơn 90% độ dài của nó - khoảng 100 mm. Nếu mép chất lỏng co lại và có dạng giọt trong khoảng 2 giây sau khi quét mực thì việc kiểm tra sẽ được làm lại với mực khác có năng lượng bề mặt thấp hơn cho đến khi mép mực không bị biến đổi trong khoảng 2 giây (hình 1).

Phương pháp này đo được giá trị năng lượng bề mặt, nhưng không đánh giá được các thay đổi nhỏ.

Theo ASTM 2578-99a thì chất lỏng được phủ toàn bộ trên một mặt phẳng với một miếng lót bằng cotton. Vùng mực in phủ lên một diện tích xấp xỉ 25 x 25 mm. Phương pháp này đo được các giá trị năng lượng bề mặt nhỏ, nhạy với các lỗi gây ra cho màng.

Theo phương pháp của phòng thí nghiệm thì ASTM có sai số so với chuẩn ASTM là ± 2mN/m. Phương pháp DIN là là ± 1mN/m, DIN rõ ràng là tốt hơn. Sai số cao của phương pháp ASTM sẽ làm cho lớp mực in dày đều không được đảm bảo và hơn nữa cũng nên sử dụng tấm lót bằng len cotton.

 Trong thực tế thì phương pháp DIN ISO 8296 được ưa dùng hơn, bởi vì nó cho kết quả nhanh và dễ thực hiện hơn phương pháp ASTM D 2578-99a.

Đối với cả 2 phương pháp trên sử dụng cho mực in mềm với sức căng bề mặt trong khoảng 30 – 72 mN/m với bước đo là 2 mN/m. Một loại bút kiểm tra 38mN/m được sử dụng như là cách kiểm tra bề mặt đã xử lý trước rất nhanh, tuy nhiên nó không thích hợp cho các thiết  bị hệ thống đo năng lượng bề mặt và cũng không được sử dụng cho các bề mặt in và tráng phủ. Bút kiểm tra này có thể được sử dụng giống như bất kỳ một loại bút nỷ nào khác. Nếu đường vẽ ra trên bề mặt vật liệu là liên tục thì năng lượng bề mặt vật liệu đó không nhỏ hơn 38 mN/m và có thể in được. Nếu đường vẽ bị đứt nghĩa là bề mặt đã được xử lý kém hoặc chưa được xử lý.

Số đo góc tiếp xúc hầu như chỉ được sử dụng trong các nghiên cứu của phòng thí nghiệm. Nếu polymer chứa nhiều phụ gia hoặc được tráng phủ thì phản ứng hóa học sẽ xảy ra giữa hóa chất trên mặt vật liệu và mực của bút kiểm tra. Trong trường hợp này thì các bề mặt vật liệu được nghiên cứu với các số đo góc tiếp xúc sử dụng nước cất.

Để cho kết quả bám dính của lắc, chất tráng phủ và mực in nhanh thì sử dụng băng keo kiểm tra theo ASTM D 3359-97.

Sản phẩm cùng loại

Danh mục sản phẩm

Hổ trợ trực tuyến

Kinh Doanh:(Anh Bình)

Kinh Doanh:(Anh Bình) - 0903 743 151

 Kỹ Thuật:(Anh Thiềm)

Kỹ Thuật:(Anh Thiềm) - 0905 496 424

Bộ Phận Kế Toán(Chị Giang)

Bộ Phận Kế Toán(Chị Giang) - 0989.178.568

Bộ Phận Dây CuRoa(Chị Nhàn)

Bộ Phận Dây CuRoa(Chị Nhàn) - 0902.833.151

Liên kết website

Thống kê

  • Đang online 94
  • Hôm nay 518
  • Hôm qua 934
  • Trong tuần 3,236
  • Trong tháng 14,987
  • Tổng cộng 634,039
Logo đối tác
Logo đối tác

Top

   (0)